KDC TÂN THẠNH ĐÔNG

Khu dân cư Tân Thạnh Đông là dự án được phát triển thành khu khu dân cư thí điểm mở rộng tại trung tâm Tân Thạnh Đông. Dự án do HDCOMREAL phát triển với quy mô 5081,7m2 với 39 nền đất có diện tích đa dạng từ 80-220m2. Tân Thạnh Đông sẽ góp phần mang đến thêm lựa chọn an cư cho thị trường khu vực với quy hoạch đồng bộ và vị trí thuận lợi.

Vị trí

Dự án khu dân cư Tân Thạnh Đông tọa lạc trên trục đường Nguyễn Kim Cương nối Đỗ Văn Dậy và đường Bến Than, xã Tân Thạnh Đông, huyện Củ Chi.

Vị trí dự án : Nằm liền kề trung tâm hành chính Huyện Hóc Môn dễ dàng kết nối các quận trung tâm và khu vực qua các trục đường huyết mạch như QL22, TL8, TL9, Võ Văn Bích. Từ đây cư dân chỉ mất 2 phút đến trạm xe buýt TL15, khoảng 2 phút đi chợ Tân Thạnh Đông, 15 phút đến chợ Hóc Môn, 15 phút đến trung tâm cành chính huyện Củ Chi, 10 phút đến siêu thị Coop Mark đường Đỗ Văn Dậy.

Thông tin chung

Khu dân cư Tân Thạnh Đông nằm tại hướng Đông Nam thuộc huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh. Xã Tân Thạnh Đông có diện tích 2.650,37 ha, dân số trên 25 ngàn người, có thể nói mật độ dân số đạt hơn 900 người/km². Với sự phát triển không ngừng hiện nay của đất nước, xã Tân Thạnh Đông có một nguồn lao động dồi dào lên đến 15 ngàn người, thuộc độ tuổi từ 16 đến 60 tuổi. Và theo báo cáo của bộ lao động tại xã Tân Thạnh Đông huyện Củ Chi, tình trạng thất nghiệp, chưa có việc làm là hầu như không có.

Mặt bằng

 

Dự án sở hữu tiện ích ngoại khu đa dạng gần ngay thị trấn Hóc Môn, chợ Hóc Môn, gần các cụm công nghiệp, khu trung tâm vui chơi giả trí, hệ thống trường học, trung tâm chăm sóc sức khỏe, ngân hàng… Như vậy, với vị trí thuận lợi, mọi nhu cầu của cư dân dự án sẽ được đáp ứng đầy đủ và nhanh chóng.

 

Kinh tế và tổ chức sản xuất

Tân Thạnh Đông là một xã ngoại thành của thành phố Hồ Chí Minh. Kinh tế xã theo hướng: Công nghiệp – nông nghiệp – thương mại – dịch vụ với mức độ giá trị đóng góp cho sự phát triển kinh tế của xã: 46,56% – 34,05% – 19,39%

Nông nghiệp: 

Nông nghiệp giữ vai trò khá quan trọng trong cơ cấu kinh tế, chiếm tỷ trọng 34,05 % tổng giá trị sản xuất các ngành kinh tế. Tổng diện tích canh tác là 1,257 ha trong đó: 

  • Diện tích cây lúa 800 ha, năng suất bình quân đạt 4,5 tấn/ha;

  • Diện tích đất trồng cỏ 420 ha, năng suất bình quân 240 tấn/ha;

  • Diện tích cây hoa kiểng 9 ha; bình quân đạt 80 triệu/ha/năm;

  • Diện tích trồng cây thuốc lá 22,5h, bình quân 210 triệu/ha/năm;

  • Diện tích trồng cây cao su  4,5 h, bình quân đạt 300 triệu/năm.

  • Diện tích nuôi trồng thủy sản 1ha, bình quân 80 triệu/ha/năm.

  • Nông nghiệp đang chuyển dịch cơ cấu theo hướng tăng dân tỷ trọng trong ngành chăn nuôi.

Về công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp: 

Hiện tại trên địa bàn xã có 44 công ty xí nghiệp, 116 doanh nghiệp. Trong đó có 35 công ty đang hoạt động ổn định.

Thương mại – Dịch vụ: 

Hiện xã có 1024 hộ kinh doanh, trong đó có 545 đã đăng ký kinh doanh chủ yếu kinh doanh các loại hình dịch vụ ăn uống – giải khát, thuê nhà trọ, bán thức ăn gia súc – thuốc thú y….

Cơ cấu kinh tế của xã theo hướng: 

Công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp 46,56%; nông nghiệp: 34,05%; Thương mại – dịch vụ: 19,39%.

Văn hóa, xã hội và môi trường:

Văn hoá- giáo dục:

  • Tỷ lệ ấp đạt tiêu chuẩn xã văn hoá: 13/19 ấp (chiếm 68%);

  • Phổ cập giáo dục trung học bình quân hàng năm đạt trên 72%

  • Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS được tiếp tục học trung học (phổ thông, bổ túc, học nghề): đạt 98,6%

Y tế:

  • Trạm Y tế: xã có trạm y tế đạt chuẩn quốc gia;

  • Tỷ lệ người dân tham gia các hình thức bảo hiểm y tế : 66,2%

  • Tỷ lệ trẻ em được tiêm chủng các loại vacxin : 96%

  • Tỷ lệ trẻ em SDD trong độ tuổi : 3,43%

  • Tỷ lệ phụ nữ sinh con thứ 3 trở lên : 4,82 %

Môi trường:

  • Tỷ lệ hộ sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh: 100 % hộ dùng nước giếng khoan;

  • Tỷ lệ hộ có đủ 3 công trình (nhà tắm, hố xí, bể nước) đạt chuẩn: 90%.

  • Tỷ lệ hộ có cơ sở chăn nuôi hợp vệ sinh:  48 %.

  • Xử lý chất thải: có thu gom rác và xử lý : 60 %; chưa có thu gom rác và xử lý : 15,55 %

  • Số km rãnh thoát nước trong ấp:  Xã có 187,006 km chưa đạt yêu cầu tiêu thoát nước (chủ yếu hiện tại là rãnh thoát nước bằng đất tại hai bên ven đường, chứ chưa được làm kín bê tông hay đặt cống..);

  • Tỷ lệ cơ sở sản xuất chưa đạt tiêu chuẩn môi trường: 40%.

  • Nghĩa trang: đã quy hoạch: 2; chưa có quy chế quản lý: 0

  • Tình hình chung về môi trường và quản lý môi trường trên địa bàn xã.

  • Những năm gần đây việc áp dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất nông nghiệp đã đem lại những hiệu quả rõ rệt về cải tạo môi trường. Tuy nhiên do ý thức của người dân chưa cao, việc sử dụng nhiều loại hoá chất chưa hợp lý nên môi trường của các tuyến kênh rạch đang dần bị ô nhiễm, mặt khác chất thải từ chăn nuôi và sinh hoạt của nhân dân cũng ảnh hưởng tiêu cực tới cảnh quan môi trường của xã.

Hỗ trợ trực tuyến